Tìm Hieu Sinh Hoc Plus
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

Thông tin ngành thân mềm Phần II

Go down

Thông tin ngành thân mềm Phần II Empty Thông tin ngành thân mềm Phần II

Bài gửi by Admin Sat Jun 20, 2015 5:51 pm

Lớp vỏ một tấm (Monoplacophora)
- Đặc điểm cấu tạo:
+ Kích thước thay đổi, loài lớn nhất là Neopilina galatheae dài tới 37mm và loài bé nhất là Micropilina arntzi dài không hơn 1mm.
+ Con trưởng thành có vỏ hình nón, mặt trong của vỏ có vết bám của cơ sắp xếp theo kiểu phân đốt. Toàn bộ thân nằm dưới vỏ, chân hình đĩa, đầu ở phía trước chân và không phân biệt rõ ràng với phần thân, hai bên chân là rãnh áo có từ 3 - 6 đôi mang lá đối nhau. Tận cùng có nhú hậu môn. Cạnh lỗ miệng có 2 tua miệng hình thùy, giữa tua miệng và bờ trước của chân có cơ quan chia nhánh làm nhiệm vụ cảm giác.
+ Thể xoang rộng.
+ Hệ tiêu hoá: có hầu, thực quản, dạ dày, ruột giữa và ruột sau. Có tuyến gan đổ vào dạ dày, lưỡi gai có răng sừng khoẻ.
+ Hệ tuần hoàn: Có một đôi tim bên và mạch máu. Máu từ mang đổ vào 2 đôi tâm nhĩ rồi vào 1 đôi tâm thất.
+ Hệ bài tiết: Có 6 - 7 đôi thận, một đầu thông với thể xoang, đầu kia đổ ra ngoài vùng xoang áo, cạnh mang.
+ Hệ thần kinh: Có cấu tạo điển hình của Song kinh.
+ Giác quan: Có 1 đôi cơ quan cảm giác, thăng bằng là bình nang.
+ Hệ sinh dục: Đơn tính, tuyến sinh dục có 2 đôi trong thể xoang. Sản phẩm sinh dục được chuyển ra ngoài qua thận.
- Thụ tinh ngoài.
- Trước đây chỉ biết đến động vật thuộc lớp này qua hoá thạch (tìm thấy hoá thạch ở các kỷ Cambri, Silua và Đevon), đến năm 1952 mới gặp loài Neopilina galatheae sống ở ven bờ Thái Bình Dương gần Mê Hi Cô, nơi có độ sâu 5.000m. Từ đó đến nay đã phát hiện được 19 loài đang tồn tại, tất cả đều ở đáy biển sâu trên 2.000m.
- Hệ tiêu hoá:
+ Phần lớn Chân bụng ăn thực vật, một số khác ăn thịt, một số khác lọc thức ăn trong nước hay sống ký sinh. Tiêu hoá ngoại bào là chủ yếu (mặc dù có khối gan có thể tiêu hoá nội bào).
+ Đặc điểm đáng chú ý của hệ tiêu hoá Chân bụng là có nhiều răng ở lưỡi gai (tới hàng trăm ngàn răng), dạ dày quay hướng trước ra sau, tuyến nước bọt có thể tiết các chất hoà tan đá vôi hay chất độc (ốc cối Conus), dạ dày của một số Chân bụng ăn lọc như giống Lambris, Strombus có trụ gelatin tiết men tiêu hoá bằng cách bào mòn dần, ruột sau có thể xuyên qua tâm thất.
+ Một số Chân bụng ký sinh hệ tiêu hoá bị tiêu giảm.
- Hệ tuần hoàn:
+ Hở. Cấu tạo các bộ phận phức tạp hơn Giun đốt.
+ Tim có 1 tâm thất với 1 hay 2 tâm nhĩ, màu nâu nhạt nằm trong bao tim trong suốt. + Máu không có màu.
+ Nhịp tim thay đổi tuỳ loài (20 - 40 lần/ phút ở nhiệt độ 200C).
- Hệ hô hấp:
+ Chân bụng sống dưới nước hô hấp bằng mang lá đối.
+ Một số Chân bụng chuyển sang đời sống trên cạn thì cơ quan hô hấp là phổi. Phổi là thành trong của áo có nhiều mạch máu tạo thành và thông với bên ngoài qua một lỗ nhỏ.
+ Một số loài sống ở nước hô hấp cả mang lẫn phổi như ốc nhồi.
+ Nhiều loài Chân bụng ở biển có cơ quan hô hấp thay đổi, đó là các phần phụ thứ sinh mọc ra trên bề mặt cơ thể.
- Hệ thần kinh: Hạch thần kinh phân tán, do sự tập trung các tế bào thần kinh và dây thần kinh theo kiểu đối xứng 2 bên của Song kinh và Vỏ một tấm. Cấu tạo phổ biến gồm có 5 đôi hạch lớn:
+ Não nằm phía trên hầu điều khiển các hoạt động của giác quan phần đầu, thành hầu và bình nang.
+ Hạch chân điều khiển chân.
+ Hạch áo điều khiển cơ quan áo.
+ Hạch mang điều khiển mang và osphradium.
+ Hạch nội quan điều khiển khối nội quan.
+ Một số Chân bụng khác còn có thêm các hạch phụ như hạch miệng, hạch osphradi. + Do hiện tượng xoắn vặn cơ thể nên hệ thần kinh bị bắt chéo, rất đặc trưng cho Chân bụng.
- Giác quan: Khá đa dạng, gồm có xúc giác (tua miệng và bờ vạt áo), cơ quan cảm giác hoá học (osphradi và đôi râu thứ 2), bình nang, mắt ở gốc hay ở đỉnh của đôi tua đầu thứ 2). Mắt có thể cấu tạo đơn giản như mắt của ốc nón hay phức tạp như mắt của một số Chân bụng ăn thịt (Fissurella, Pterotrachea).
- Hệ bài tiết:
+ Một số nhóm còn có 2 thận (ở ốc hai tâm nhĩ), còn phần lớn chỉ còn 1 thận, thận phải tiêu biến.
+ Cấu tạo thận: Thường có hình chữ U, một đầu thông với xoang bao tim qua lỗ thận tim, còn đầu kia đổ vào xoang áo.
+ Sản phẩm bài tiết của Chân bụng ở nước là các hợp chất amôniac hay amin, còn của Chân bụng trên cạn là axit uric.
- Hệ sinh dục:
+ Phần lớn Chân bụng đơn tính, tuyến sinh dục nằm ở khối nội tạng ở cận gan. Mức độ phát triển của ống dẫn sinh dục thay đổi tuỳ nhóm nhưng phụ thuộc vào sự có mặt của thận phải.
→ Ở Mang trước Hai tâm nhĩ, sản phẩm sinh dục trước khi vào xoang áo đi qua một phần của thận phải.
→ Một số Chân bụng không có cơ quan giao phối, thụ tinh ngoài.
→ Ở một số Chân bụng đơn tính khác ống dẫn sinh dục có cấu tạo phức tạp và có nguồn gốc khác nhau. Chia làm 3 phần: Phần ống dẫn sinh dục chính thức có nguồn gốc từ tuyến sinh dục, phần tiếp theo được hình thành từ thận phải và phần cuối cùng có nguồn gốc từ vạt áo do rãnh tiêm mao trên vạt áo cuốn lại mà thành. Thụ tinh trong.
+ Một số ít Mang trước, tất cả Mang sau và Có phổi lưỡng tính. Có thể phân biệt thành 5 kiểu tuyến lưỡng tính:
→ Các phần của tuyến sinh dục đều có thể hình thành tinh trùng và trứng (ví dụ như ở giống Valvata, Odostomia, Pleurocoela, Sacoglossa và phần lớn Có phổi).
→ Một số thùy của tuyến sinh dục hình thành tinh trùng, một số thùy khác lại hình thành trứng, nhưng không phân biệt các thùy (Acmaea fragilis, Actaeon, Pella, Lobiger, Siphovaria...).
→ Thùy sinh dục đực và cái tách rời nhau thành các vùng (Marsenia, Onchidiopris, Pteropoda...).
→ Phần sinh dục đực tách hẳn khỏi phần sinh dục cái nhưng vẫn chung nhau ống dẫn (Bathysciadium).
→ Tuyến sinh dục đực và cái riêng biệt hoàn toàn về tuyến cũng như ống dẫn.
+ Hoạt động lưỡng tính của Chân bụng Crepidula sống định cư. Chúng có thói quen bám thành từng đống. Con non bao giờ cũng là con đực, lớn lên có thể chuyển thành con cái hay con đực do thành phần đực cái khác trong quần thể: con non sẽ mãi mãi là đực nếu nó ở bên cạnh con cái, nhưng nó sẽ chuyển thành con cái nếu tách riêng và cho nó ở nơi có nhiều con đực hơn ở xung quanh.
b. Đặc điểm sinh sản và phát triển
- Sinh sản:
+ Phần lớn Chân bụng đẻ trứng thành đám, chìm trong khối chất nhầy bám vào cây thủy sinh (như ốc đá, ốc Limnaea, Busycon, Aplysia v.v...), một số đẻ trứng từng đám bám vào hốc đất, bùn (ốc nhồi, ốc sên...).
+ Một số khác như Littorina và Mang trước thuộc họ Viviparidae đẻ con.
- Phát triển: Trứng phân cắt xoắn ốc, xác định, hoàn toàn và không đều.
+ Ở Mang trước Hai tâm nhĩ, trứng nở thành ấu trùng trochophora, còn các động vật Chân bụng còn lại thì giai đoạn ấu trùng trochophora chỉ xẩy ra trong trứng và trứng nở ra ấu trùng veliger bơi lội tự do. Đáng chú ý là ấu trùng veliger có qua một giai đoạn xoắn vỏ và quay khối nội tạng một góc 1800 (so tương đối với phần đầu). Quá trình xoắn xẩy ra rất nhanh (3 phút như ở các loài thuộc giống Acmaea) hay khá lâu như ở giống Pomatias (10 ngày). Ở ốc nón (Patella), bào ngư (Haliotis) có 2 lần xoắn, mỗi lần quay 900, lần đầu thì nhanh hơn, lần sau thì chậm hơn.
+ Một số Mang trước sống ở biển như Busycon, Conus, Natica... cùng với tất cả Mang trước sống ở nước ngọt, Có phổi trứng nở trực tiếp thành con non.
Phân loại
Chân bụng có khoảng 90.000 loài, được chia làm 3 phân lớp: Mang trước, Mang sau và Có phổi.
* Phân lớp Mang trước (Prosobranchia)
- Đặc điểm: Mang ở trước tim, thường có 1 mang, ít khi gặp 2 mang. Xoang áo ở phía trước cơ thể, có dây thần kinh bên tạng bắt chéo. Vỏ phát triển và có nắp vỏ. Đơn tính, phần lớn sống ở biển, một số ít sống ở nước ngọt.
- Phân loại: Có 2 bộ
+ Bộ Chân bụng cổ (Archaeogastropoda): Chân bụng nguyên thủy nhất, đặc điểm cấu tạo cơ thể còn giữ nhiều nét đối xứng hai bên như có 2 tâm nhĩ, phức hợp cơ quan áo chẵn (2 mang, 2 thận, 2 osphradi...). Do có 2 tâm nhĩ nên bộ này còn được gọi là bộ Hai tâm nhĩ (Diotocardia). Sống chủ yếu ở biển, một số ít sống ở nước ngọt (Theodoxus) hay trên cạn (Helicina). Các họ thường gặp là Neritidae, Trochidae, Turbinidae, Haliotidae, Patellidae... Ở Việt Nam các loài ốc thuộc bộ này thường gặp ở vùng nước lợ, ven biển, rừng sú vẹt, vùng dưới triều và vùng triều. Các giống phổ biến là Nerita (ốc đĩa, ốc ngọt), Trochus (ốc tháp), Monodonta (ốc đụn), Umbonium (ốc mành), Patella, Fissurella (ốc nón), Turbopetholatus (ốc xà cừ), Haliotis (bào ngư).
+ Bộ Chân bụng trung (Mesogastropoda): Cơ thể mất đối xứng, tim chỉ có một tâm nhĩ, phức hợp cơ quan áo lẻ (một mang, một osphradi, một thận). Vì chỉ có một tâm nhĩ nên được gọi là Bộ Một tâm nhĩ (Monotocardia). Thụ tinh trong, phần lớn phát triển qua ấu trùng veliger. Thích nghi rộng với điều kiện sống của môi trường như ở biển, nước ngọt, ở cạn, một số sống ký sinh. Ở vùng biển Việt Nam thành phần loài thuộc Chân bụng trung rất phong phú. Các loài thường gặp và có giá trị cao như: Telescopium telescopium, Terebralia sulcata, Cerithidea sinensis (ốc đụn, ốc mút) phân bố ở rừng sú vẹt và nước lợ; Charonia tritonis (ốc tù và), Hemifurus tuba, Cassis cornuta (ốc kim khôi), Dolium variegatum (ốc mũ), Laevistrombus isabella (ốc lợi đỏ), Cypraea tigris (ốc mõ chù da hổ), Natica maculosa...Ở nước ngọt thường gặp các loài: Pila polita (ốc nhồi), Sinotaia aeruginosa, Angulyagra polyzonata (ốc vặn), Cipangopaludina lecythoides (ốc bươu, ốc rạ). Trong núi đá vôi ẩm hay gặp các giống Cyclophorus, Hybocystis. Một số loài là vật chủ trung gian truyền bệnh giun sán như Melanoides tuberculatus và Stenomelania testudinaria...
+ Bộ Chân bụng mới (Neogastropoda): Cấu trúc cơ thể phân hoá cao nhất, lưỡi gai có ít răng, đầu kéo dài thành mõm, osphradi dạng lông chim, hệ thần kinh tập trung, miệng có nắp vỏ, có rãnh xi phông kéo dài. Hầu hết sống ở biển và ăn thịt. Thụ tinh trong. Nhiều loài có trứng phát triển trực tiếp thành con non. Ở biển Việt Nam, thường gặp các đại diện của bộ này có vỏ với màu sắc đẹp. Các họ có số lượng lớn là Volutidae, Nassidae, Muricidae, Conidae, Harpidae, Mitridae, Galeodidae... một số có thể tiết chất độc (Conus) hay chất màu dùng để nhuộm (Murex). Bao gồm các giống thường gặp là Murex, Rapana, Conus, Harpa, Mitra, Nassarius, Hemifuscus, Babylonia... Trong đó có các loài thường gặp là Cymbium melo (ốc bù giác, ốc gáo) có nhiều thịt, vỏ đẹp, Babylonia areolata (ốc hương) có thịt ngon, Columbella rulgurans, Mitra rugosum, Phos senticosus... có vỏ đẹp.
* Phân lớp Mang sau (Opisthobranchia)
- Đặc điểm: Cơ thể vặn xoắn không hoàn toàn, bao gồm các loài động vật Chân bụng vỏ tiêu giảm hay chỉ còn lại rất ít. Hệ thần kinh lệch. Xoang áo nằm ở phía bên phải cơ thể, đôi khi tiêu giảm hay mất hẳn. Tim chỉ có 1 tâm nhĩ. Một mang nằm ở phía sau tim. Đôi khi mang được thay thế bởi mang thứ sinh. Lưỡng tính, chỉ sống ở biển.
- Phân loại: Chia làm 4 bộ:
+ Bộ Mang kín hay Mang ẩn (Tectibranchia): Có xoang áo và mang chính thức, mang được áo che kín. Chân chia thành 2 thùy ở hai bên lớn. Sống bò dưới đáy. Ở Việt Nam đã gặp các giống Dolabella, Atys, Bulla, Hydatina, Cyclichna, Pupa...
+ Bộ Chân cánh (Pteropoda): Hai tấm bên chân phát triển thành vây bơi, thích ứng với đời sống bơi. Đại diện có giống Clione không có vỏ, không có mang, phân bố nhiều ở vùng cận cực, là thức ăn của cá voi. Ở Việt Nam đã gặp giống Limacina và các loài Creseis acicula, Cresies clava có số lượng lớn và phân bố rộng. Khi chết đi vỏ đá vôi lắng xuống tạo thành thành phần cát bùn của đáy biển.
+ Bộ Ốc hai mảnh vỏ (Saccoglossa): Bên cạnh các đặc điểm về cấu tạo lưỡi gai, hầu tiêu biểu cho động vật Chân bụng thì nhóm này còn có vỏ hai mảnh như vỏ trai (Berthelinia, Midorigai). Ở Việt Nam gặp các giống Phyllobrachus, Placobranchus…
+ Bộ Mang trần (Nudibranchia): Mang chính thức (nguyên sinh) tiêu biến, thay thế là mang phụ (thứ sinh) ở mặt lưng. Các hạch thần kinh tập trung về phía đầu. Cơ thể có dạng sên, bên ngoài đối xứng, không có vỏ, không có xoang áo. Ở biển Việt Nam đã biết có 200 loài, các giống có nhiều loài là Hexabranchus, Phyllidia, Armina, Phyllỉhoe, Melibe, Glossodoris...
* Phân lớp Có phổi (Pulmonata)
- Đặc điểm: Hô hấp bằng phổi. Cơ quan áo lẻ, thần kinh lệch, các hạch thần kinh tập trung ở phần đầu. Vỏ phát triển hay tiêu giảm, không có nắp vỏ. Lưỡng tính, một số đẻ con. Sống ở nước ngọt hay trên cạn.
- Phân loại: Được chia thành 2 bộ.
+ Bộ Mắt ở gốc (Basommatophora): Có mắt nằm ở gốc tua đầu, tua đầu có 1 đôi, không co duỗi được. Vỏ phát triển. Phần lớn chuyển sang đời sống thứ sinh nước ngọt. Gặp phổ biến các giống như Lymnea, Gyraulus, Polypylis, Hippeutí, Pettancylus, Indoplanobris...
+ Bộ Mắt ở đỉnh (Styllommatophora): Có 2 đôi tua đầu co duỗi được, mắt nằm ở ngọn đôi tua đầu sau. Vỏ có thể tiêu giảm. Sống chủ yếu trên cạn. Bao gồm các loài thuộc ốc sên, sên trần, sên núi. Các họ phổ biến là Succineidae, Enidae, Ariophantidae, Achatidae, Zonitidae, Bulimulidae, Helicidae, Limacidae, Arionidae. Ở Việt Nam gặp phổ biến các giống như Achatina, Hemiphaedusa, Bradybaena….
d. Sinh thái Chân bụng
- Động vật Chân bụng phân bố rất rộng, phần lớn sống ở nước (số lượng loài ở biển và nước lợ nhiều hơn so với ở nước ngọt). Ở biển động vật Chân bụng có thể phân bố ở độ sâu 5.000m, còn trên lục địa thì có thể đạt đến độ cao là 5.500m (loài Lymnaea kookeri và Anadenus schaginteiti).
- Một số ốc Mang trước thích nghi với đời sống trôi nổi, còn phần lớn động vật Chân bụng sống bò ở đáy, một số khác sống bám, ít di động như các giống Patella, Ancylus, Vermetus...).
- Một số loài sống ký sinh trên động vật Da gai như Sao biển, Cầu gai, Hải sâm... hay các loài động vật Thân mềm khác như trai (giống Mucronalia, Stilifer...).
- Ốc có phổi ưa sống nơi ẩm, giàu mùn bã thực vật, về mùa lạnh hay khô chúng thường có thời kỳ nghỉ hoạt động, bịt miệng bằng chất nhầy có nhiều muối can xi do chúng tiết ra.
- Một số ốc có mang có thể sống cả ở suối nước nóng (tới 530C). Riêng nhóm ốc nhồi (họ Pilidae) vừa có mang, vừa có phổi nên có thể sống trên cạn khá lâu.
- Đa số ăn thực vật, mùn bã hữu cơ, rêu, nấm... Một số ốc có thể ăn thịt (các giống thuộc bộ Chân bụng mới, Chân cánh, họ Cypraeidae, Doliidae...), thức ăn là giun, sứa, trai và ốc khác.
Lớp Chân rìu (Pelecypoda) = Hai mảnh vỏ (Bivalvia) = Mang tấm (Lamellibrachia)
Số loài hiện sống (8.000 loài) ít hơn nhiều so với các loài hoá thạch (12.000 loài), trong đó chủ yếu sống ở biển, còn ở nước ngọt chỉ chiếm 10 - 15%).
a. Cấu tạo và sinh lý
- Cơ thể giẹp bên và đối xứng 2 bên. Phần đầu tiêu giảm. Chân hình lưỡi rìu phía dưới thân, thò ra ngoài khi di chuyển.
- Vỏ bao bọc bên ngoài cơ thể, gồm có 2 mảnh, che kín 2 bên thân, dính liền với nhau ở mặt lưng nhờ dây chằng và các khớp. Vỏ trai sông gồm 2 mảnh bằng nhau; một số Chân rìu khác có 2 mảnh vỏ không đều nhau, mảnh vỏ lớn chứa nội quan, mảnh vỏ nhỏ làm nắp đậy; nhóm sống ký sinh như hà bún vỏ tiêu giảm, chỉ còn lại 1/20 chiều dài cơ thể. Ví dụ cấu tạo vỏ trai sông: lớp sừng bọc ngoài, tiếp đến là lớp đá vôi dày, trong cùng là lớp xà cừ có màu sắc lóng lánh, sặc sỡ.
- Dưới vỏ là vạt áo. Mặt trong áo tạo thành xoang áo, là nơi thực hiện trao đổi khí và vận chuyển thức ăn. Hai bờ vạt áo của phần lớn Chân rìu dính liền với nhau, chỉ để hở một số nơi hình thành ống hút nước và thoát nước, tạo chỗ thò ra ngoài cho chân và cơ bám. Tiếp theo là 2 tấm mang ở 2 bên. Ở giữa cơ thể là nội quan.
- Di chuyển: Vỏ hé mở cho chân thò ra rồi thụt vào, kết hợp động tác đóng mở vỏ mà chúng di chuyển chậm chạp trong bùn như trai. Nhóm Sò nứa (Cardium) có thể di chuyển theo kiểu “nhảy”, chân thò ra ngoài rồi lại đột ngột co vào, kéo cơ thể về phía trước. Chân rìu sống bám như nhóm hầu (Ostreidae), điệp (Ammusium pleuronectes) hay loài Anomia aenigmatica có chân tiêu giảm, chúng di chuyển bằng cách đột ngột khép 2 mảnh vỏ, tạo ra 2 tia nước bắn về phía bản lề để bơi theo hướng ngược lại.
- Hệ tiêu hoá:
+ Thức ăn: Phần lớn Chân rìu ăn các vụn bã hữu cơ lắng đọng, động vật và thực vật nổi cỡ bé, một số ít ăn thịt (nhóm Mang ngắn) hay ăn gỗ (nhóm Hà) nhờ vào hệ vi sinh vật cộng sinh trong ruột.
+ Cấu tạo hệ tiêu hóa: Ví dụ hệ tiêu hóa Trai sông: gồm có miệng, thực quản là một ống lớn, dạ dày không có hình dạng nhất định và có thể tích khá lớn, ruột giữa khá dài, cuộn thành nhiều khúc, ruột sau có một đoạn chui qua tâm thất. Hậu môn nằm gần xiphông thoát, trong xoang áo và khối gan tụy.
+ Hoạt động tiêu hóa thức ăn: Cặn vẩn hay thức ăn được đưa đến lỗ miệng nhờ hoạt động của tiêm mao trên tấm miệng hay tấm mang tạo dòng nước liên tục hút thức ăn, oxi vào và thải nước thừa ra ngoài. Ở Mang sợi và Mang chính thức, cơ quan tiết enzym là trụ gelatin. Một số loài thuộc nhóm Mang ngăn có ống hút đủ khả năng để hút vào xoang áo các mồi bé như giáp xác và giun. Một số Chân rìu sống ở vùng nước nông và sâu có sự cộng sinh của vi khuẩn hoá tổng hợp trong mang với số lượng lớn.
- Hệ tuần hoàn:
+ Chân rìu có hệ tuần hoàn hở, phần lớn có trực tràng xuyên qua tâm thất. Vị trí của tim so với trực tràng thay đổi ở các loài rất gần gũi nhau về quan hệ phát sinh chủng loại.
+ Vòng tuần hoàn điển hình của Chân rìu là tim - hệ khe xoang - đơn thận - mang - tim. Tuy nhiên có thể thay đổi tuỳ nhóm loài.
+ Máu của Chân rìu phần lớn không có màu, ở sò huyết có máu màu đỏ.
- Hệ hô hấp: Cơ quan hô hấp của động vật Chân rìu là dạng biến đổi của mang lá đối, đặc trưng cho từng nhóm.
+ Nhóm Mang nguyên thủy: Mang bám hai bên phía sau cơ thể, mỗi mang có nhiều tấm mang hình tam giác xếp thành 2 dãy (hình 7.12).
+ Nhóm Mang sợi: Tấm mang hình sợi. Dãy tấm mang trong ở về phía cuối chân còn dãy tấm mang ngoài ở phía vạt áo
+ Nhóm Mang chính thức: Tấm mang bao giờ cũng có cầu nối dọc giữa các tấm mang cùng dãy và cầu nối giữa phần gốc và phần ngọn của mỗi tấm.
+ Nhóm Mang ngăn: Mang tiêu giảm, một vách ngăn phát triển trong xoang áo, chia xoang ra phần dưới và phần trên (phần hô hấp). Vách ngăn thủng một số đôi lỗ đổ nước vào xoang hô hấp.
- Hệ bài tiết: Một đôi hậu đơn thận nằm ở 2 bên xoang bao tim, mỗi đơn thận hình chữ V, có phần nhọn hướng về phía sau. Hai nhánh có một mở vào phần của xoang bao tim còn một qua lỗ bài tiết mở vào xoang áo.
- Hệ thần kinh: Cấu tạo tương đối đồng nhất trong tất cả chân rìu. Não là do đôi hạch não và hạch bên nhập lại. Giữa 2 hạch não còn có cầu nối ngang trên hầu. Từ não có dây thần kinh não - chân đi đến chân, dây thần kinh não - nội tạng đi đến hạch nội tạng nằm trên cơ khép vỏ sau. (Hình).
- Giác quan: Kém phát triển, ở phần đầu cũng tiêu giảm theo phần đầu. Cơ quan thăng bằng là bình nang nằm cạnh hạch chân. Một số Chân rìu có mắt trên bờ vạt áo (điệp), hay bên bờ ống hút và thoát nước (giống Cardium). Mắt của điệp cấu tạo khá phức tạp, có màng cứng, thể thủy tinh và võng mạc để nhận ảnh. Tấm miệng và các sợi trên bờ áo giữ nhiệm vụ xúc giác.
- Hệ sinh dục: Phần lớn động vật Chân rìu đơn tính, tuyến sinh dục chiếm 1 phần thể xoang và nằm quanh ruột. Ống sinh dục ngắn và đổ vào phần cuối của thân (ở nhóm Mang nguyên thủy hay Mang sợi), một số loài khác lỗ sinh dục nằm ngay cạnh lỗ bài tiết. Một số ít loài Chân rìu lưỡng tính như Cardium, Poromya, một số loài hàu, điệp, họ Sphaeridae và một số ít loài trong họ Trùng trục (Unionidae). Tuyến sinh dục đực và cái nằm cạnh nhau quanh ruột.
b. Sinh sản và phát triển
- Thụ tinh thường được tiến hành trong xoang áo hay ngoài cơ thể.
- Trứng phân cắt xoắn ốc và có thể phát triển trên các tấm mang.
- Động vật Chân rìu ở biển phát triển qua ấu trùng trochophora và ấu trùng veliger.
c. Phân loại
Lớp Chân rìu được chia làm 4 bộ là Mang nguyên thủy, Mang sợi, Mang tấm và Mang ngăn.
- Bộ Mang nguyên thủy (Protobranchia): Tập trung nhiều đặc điểm nguyên thủy như Chân hình đế, hạch não và hạch bên chưa tập trung làm một, mang có cấu tạo lá đối điển hình, xoang sinh dục đổ vào thận. Sống ở biển, thường chia làm 2 nhóm lớn là Nuculacea và Arcacea. Ở vùng biển nước ta thường gặp sò huyết (Tegellarca granosa), sò lông (Anadara antiquata), sò vỏ quăn (Anadra tortuosa) thường tập trung thành bãi lớn như ở Thanh Hoá và các tỉnh miền Trung.
- Bộ Mang sợi (Fillibranchia): Nhóm lớn, gồm số lớn các loài. Cơ thể có mang hình sợi, phần gốc và ngọn có thể nối với nhau bằng cầu nối ngang. Răng bản lề của vỏ tiêu giảm hay mất hẳn, có 1 - 2 cơ khép vỏ. Một số giống phổ biến như Hàu (Ostra), Vẹm (Mytilus), Điệp (Amussium)... là nguồn thức ăn có giá trị của nhân dân.
- Bộ Mang tấm (Eulamellibranchia): Mang cấu tạo phức tạp, kiểu tấm. Vỏ có răng bàn lề phát triển, có dạng mấu lồi hay bản mỏng sắc, có khi tiêu giảm, cơ khép vỏ phát triển đều. Có thể chia thành 4 phân bộ.
+ Phân bộ Schizodonta: gồm có các loài trai nước ngọt thuộc các họ Unionidae, họ Margaritiferidae, Amblemidae. Ở sông, hồ, ao miền Bắc nước ta các loài thường gặp là Trai sông (Sinanodonta elliptica), Trai cánh mỏng (Cristaria bialata), Trai điệp (Pletolophus swinhoei, Sinohyriopsis cumingii), Trai cóc (Lamprotula leai), Trùng trục ngắn (Oxynaia micheloti), Trùng trục dài (Lanceolaria grayi). Ở vùng biển phía Nam thường gặp các loài Sinohyriopsis biatus, Cristaria bellua, Physunio superbus, Ensidens ingallsianus...
+ Phân bộ Heterodonta: Số loài lớn nhất, chủ yếu sống ở biển, chỉ có một số ít loài sống ở nước ngọt. Phổ biến là các họ Trai như Caridiidae, Mactridae, Donacidae, Psammobiidae.... và một số họ trai hến cỡ nhỏ phổ biến như Corbiculidae, Sphaerudae, Dreissenidae. Ở vùng biển và nước lợ của Việt Nam thường gặp các loài Solen gouldi (con Móng tay), Aloidí laevis (Dắt), Pholas (Trai đầu gai), Glaucomya chinensis (Don), Tenedo mani, Bankia saulii (Hà bún).
+ Phân bộ Anomalodesmata: có ít loài, răng bản lề kém phát triển, mang cong về phía trước hay tiêu giảm, sống ở biển. Ở Việt Nam thường gặp các giống Suntilla, Laternula, Aspergillum...
- Bộ Mang ngăn (Septibranchia): Gồm có số ít loài các động vật Chân rìu sống ở biển sâu. Phần chính của mang tiêu giảm, khả năng trao đổi khí do thành xoang biến đổi về cấu tạo và đảm nhận, phần còn lại của mang tạo thành vách ngăn giới hạn phần hô hấp của xoang áo. Là nhóm ăn thịt. Đại diện có các giống Poromya và Cuspidaria.
d. Tầm quan trọng của động vật Chân rìu
- Làm sạch nước, hạn chế sự ô nhiễm môi trường nước.
- Là nguồn thực phẩm rất có giá trị và rất phổ biến đối với nhiều quốc gia. Một số loài được chọn làm đối tượng nuôi trồng khá phổ biến như hàu, vẹm....
- Vỏ được dùng để nung vôi, làm đồ dùng và mỹ nghệ (khảm trai), Trai ngọc (Pinctada martensii) cho ngọc trai, hiện đang được khai thác và nuôi trồng.
- Một số loài gây hại nguy hiểm cho tàu bè, cầu cống, ống dẫn dầu mỏ. Hại gỗ có các giống Teredo, Bankia..., hại đá, xi măng Pholas, Martesia. giống Dressenia bám trong lòng ống làm tắc ống dẫn nước. nhiều loài sống bám vào vỏ tàu thuyền là hỏng và giảm tốc độ của tàu thuyền. Một số là vật chủ trung gian truyền bệnh giun sán, cho người và động vật khác. Ví dụ như ở Thái Nguyên đã gặp ấu trùng sán lá trong loài hến Corbicula bandoni.
Lớp Chân thùy = Chân búa = Chân xẻng (Scapoda)
- Hoá thạch tìm thấy của các đại diện thuộc lớp này xuất hiện muộn hơn (khoảng 450 triệu năm), sống chui rúc trong bùn.
- Đặc điểm cấu tạo và sinh lí:
+ Cơ thể đối xứng 2 bên, vỏ dạng ống nhỏ dần về phía một đầu và thủng cả 2 đầu. Đầu và chân thò ra ngoài qua lỗ lớn của vỏ, chân có dạng thùy (lưỡi xẻng).
+ Đầu kém phát triển, không có mắt, có 2 thùy bên kéo dài, trên mỗi thùy có nhiều tua bắt mồi hình sợi.
+ Xoang miệng có hàm và lưỡi gai.
+ Không có mang, nhiệm vụ hô hấp do vạt áo đảm nhận. Trao đổi nước qua lỗ nhỏ của ống vỏ.
+ Hệ bài tiết: Thận không thông với xoang bao tim.
+ Hệ tuần hoàn tiêu giảm (không có mạch máu, tâm nhĩ).
+ Hệ thần kinh đầy đủ các hạch như não, hạch bên, hạch chân và hạch nội tạng.
+ Hệ sinh dục: Đơn tính
- Sinh sản và phát triển: Thụ tinh ngoài, hình thành ấu trùng trochophora sau đó chuyển thành ấu trùng veliger giống như động vật Chân rìu. Lúc đầu có 2 tấm vỏ, sau đó 2 tấm dính với nhau ở mặt bụng và biến đổi thành vỏ dạng ống của trưởng thành. Chân thùy vừa có đặc điểm của động vật Chân rìu (ấu trùng có 2 mảnh vỏ, phần đầu tiêu giảm cùng sơ đồ hệ thần kinh) lại vừa có đặc điểm của Chân bụng (phần thân cao, tuyến sinh dục lẻ, có lưỡi gai...
- Phân loại và sinh thái: Lớp này có khoảng 300 loài. Ở vùng biển Việt Nam 18 loài. Phổ biến ở vịnh Bắc Bộ có loài Dentalium hexagonum dài khoảng 5cm.
Lớp Chân đầu (Cephalopoda)
Có khoảng 6.000 hiện sống và 7.000 loài hoá thạch. Phần lớn Chân đầu bơi giỏi, sống ở biển. Cơ thể có đối xứng hai bên. Về đặc điểm cấu tạo có nhiều biến đổi so với sơ đồ cấu trúc chung của Thân mềm như chân biến đổi thành cơ quan bắt mồi và phễu thoát nước. Vỏ chuyển vào trong cơ thể hay tiêu giảm. Nhiều loài Chân đầu là thức ăn ngon và phổ biến ở nhiều nước.
a. Đặc điểm cấu tạo và sinh lý
- Kích thước cơ thể: Phần lớn có kích thước cơ thể trung bình, dài từ 30 - 50cm. Tuy vậy vẫn có những loài đang sống có kích thước cực lớn như bạch tuộc (Architeuthis princeps) sống ở đáy biển dài tới 18m, riêng xúc tu dài tới 1m.
- Vỏ của động vật Chân đầu có quá trình biến đổi theo các mức độ khác nhau. Khi chuyển từ ngoài vào trong cơ thể, vỏ chuyển chức năng từ bảo vệ cơ thể sang nâng đỡ cơ thể.
+ Vỏ của ốc Anh vũ xoắn trong một mặt phẳng và đối xứng 2 bên, chia làm nhiều vách ngăn, tạo thành nhiều buồng. Cơ thể nằm trong buồng lớn nhất còn tất cả các buồng khác chứa đầy không khí. Giữa các vách ngăn có lỗ nhỏ, có ống vỏ thông từ buồng ngoài đến buồng thứ nhất (buồng phôi).
+ Chân đầu hoá thạch Belemnites cũng có vỏ nhiều ngăn nhưng không xoắn.
+ Mực nang: Vỏ chuyển vào trong, xoắn nhưng mất phần bụng của vỏ để hình thành mai mực.
+ Mực ống: Vỏ mất cả phần bụng và phần lưng, chỉ có lại tấm sừng.
+ Duốc biển: Mất hoàn toàn vỏ, không để lại dấu vết g.
+ Chân đầu hoá thạch: Vỏ có hình chóp, hình ngà voi, xoắn trong một mặt phẳng hay xoắn hình chóp.
+ Chân đầu còn hình thành bao sụn bảo vệ não, mắt, bình nang tương tự như sọ của động vật có xương sống.
- Phần đầu thường phát triển, có mắt cấu tạo hoàn hảo.
- Chân biến đổi nhiều nhất, không còn cấu tạo điển hình của động vật Thân mềm.
+ Ở ốc Anh vũ, đại diện Chân đầu cổ nhất còn tồn tại, một phần chân biến đổi thành tua đầu, phần còn lại vẫn có dạng đế nhưng cuộn lại thành phễu, thông với xoang áo và môi trường ngoài. Nước phun từ xoang áo theo phễu ra ngoài giúp ốc Anh vũ di chuyển theo chiều ngược lại.
+ Ở số loài khác có 8 tua và 2 tay (mực nang, mực ống) hay chỉ có 8 tay (mực phủ), có nhiều giác bám ở mặt trong, là cơ quan bắt mồi rất hiệu quả.
- Thân của động vật Chân đầu kéo dài theo hướng lưng - bụng và chứa xoang áo phía dưới.
- Đặc điểm của nội quan:
+ Hệ tiêu hoá:
→ Hoạt động bắt mồi: Là nhóm bắt mồi rất tích cực. Ví dụ như mực ống có thể lao như tên bắn vào đàn cá thu, dùng tua chộp lấy con mồi và sử dụng đôi hàm sắc nhọn cắm vào hành tuỷ làm cho con cá bị tê liệt ngay lập tức. Mực phủ thường rình con mồi sau các tảng đá, khi con mồi đi qua (cá, tôm, cua..) thì dùng tua đầu chộp lấy con mồi. Ốc Anh vũ có hàng trăm tua bắt mòi, còn mực có 10 tay, bạch tuộc có 8 tay. Tay bắt mồi đưa con mồi vào miệng và hầu.
→ Cấu tạo hệ tiêu hóa: Hầu có thành cơ khoẻ, có lưỡi bào và hai hàm hình mỏ vẹt, có tuyến mực ở vào phần cuối trực tràng (ngoại trừ ốc Anh vũ), khi gặp nguy hiểm chúng tiết mực màu đen, có bản chất alcaloid vừa để che mắt kẻ thù vừa làm tê liệt các cơ quan thần kinh và cảm giác của chúng.
+ Hệ hô hấp: Cơ quan hô hấp của động vật Chân đầu là mang lá đối, có thể có 2 hay 4 mang tuỳ theo nhóm. Dòng nước đưa ô xy đến cho mang khi con vật di chuyển. Dòng nước đưa oxi vào mang qua khe áo vùng lưng, chảy xuống phía bụng rồi ra ngoài qua phễu.(Hình).
+ Hệ tuần hoàn:
→ Hệ tuần hoàn của Chân đầu gần kín và là một đặc điểm sai khác quan trọng so với các động vật Thân mềm khác.
→ Tim có 1 tâm thất và 2 tâm nhĩ (ở nhóm Hai mang) hay 2 tâm thất và 2 tâm nhĩ (ở nhóm Bốn mang).
→ Máu có màu xanh.
+ Hệ bài tiết: Có 1 hay 1 đôi đơn thận tùy nhóm. Đơn thận thông với một xoang bao tim, còn đầu kia đổ vào xoang ở hai bên hậu môn.
+ Hệ thần kinh: Cấu tạo phức tạp để thích nghi với đời sống hoạt động bắt mồi tích cực. Não bộ khá lớn được bảo vệ trong bao sụn, giữa 2 mắt và có các trung khu điều khiển các phần tương ứng.
→ Hạch não nằm trên đầu, có dây thần kinh tới hạch miệng, dây thần kinh tới mắt.
→ Hạch chân nằm dưới hầu, có dây thần kinh tới tay, tua đầu và miệng.
→ Từ đôi hạch phủ tạng có nhiều dây thần kinh chạy về phía sau cơ thể điểu khiển các cơ quan khác nhau. Từ não và các hạch thần kinh có các đôi dây thần kinh đi đến nội quan.
+ Cơ quan cảm giác: Phát triển, nhất là mắt và bình nang.
→ Mắt của ốc Anh vũ có cấu tạo còn đơn giản, chỉ là một hố mắt hướng tới môi trường ngoài bằng lỗ nhỏ. Mắt của Chân đầu khác có cấu tạo phức tạp như mắt của động vật có xương sống. Tuỳ theo vật quan sát ở gần hay xa mà mắt của Chân đầu có thể điều khiển nhờ cơ chế điều chỉnh tiêu cự bằng cách thay đổi thể thủy tinh để ảnh nằm đúng trên màng lưới để nhìn rõ vật.
→ Cơ quan cảm giác thăng bằng là bình nang: Đôi bình nang chứa nhiều bình thạch nằm ở hai xoang rất nhỏ ở trong sụn bao đầu, ngay cạnh đôi hạch chân.
→ Khứu giác: Osphradi chỉ có ở động vật Chân đầu Bốn mang, Chân đầu Hai mang có 2 hố khứu giác nằm dưới mắt. Độ nhạy khá lớn, thí nghiệm ở mực phủ cho thấy chúng có thể nhận ra nhau cách 1,5m.
→ Khả năng biến đổi màu sắc rất nhanh chóng do sự biến dạng của tế bào sắc tố nằm trong mô liên kết. Thông thường da của Chân đầu thay đổi theo màu sắc của môi trường do não và hạch thần kinh thị giác điều khiển.
+ Hệ sinh dục: Chân đầu là động vật phân tính, có biểu hiện của dị hình chủng tính (giống Argonauta). Tuy nhiên con đực và cái không sai khác nhau nhiều về hình dạng ngoài mà chỉ ở các tay. Chẳng hạn như ở mực, con đực có tay sinh dục (hetocotyle) trong mùa sinh sản (tua bên trái.
b. Sinh sản và phát triển
- Quá trình thụ tinh tiến hành trong xoang áo. Khi thụ tinh con đực lấy một ít bao tinh từ túi Needham rồi chuyển vào xoang áo của con cái và gắn chặt vào lỗ sinh dục cái.
- Trứng giàu noãn hoàng, kích thước khá lớn, ví dụ như ở mực nang trứng có đường kính tới 15mm, những nhóm khác trứng bé hơn và có ít noãn hoàng.
- Phát triển trực tiếp không qua biến thái
c. Phân loại và tầm quan trọng kinh tế
- Động vật Chân đầu có số lượng loài hoá thạch nhiều hơn các loài hiện sống. Có 3 phân lớp là Ốc Anh vũ, Bốn mang và Hai mang
* Phân lớp Ốc Anh vũ (Nautiloidea) = Bốn Mang (Tetrabranchia)
- Có vỏ thẳng hay xoắn ngoài cơ thể. Có nhiều xúc tu nhưng không có giác bám. Có 2 đôi mang và 2 đôi thận.
- Hiện đã biết khoảng 10 loài ốc Anh vũ thuộc giống Nautilus sống ven vùng biển San hô. Ở Việt Nam đã gặp loài Nautilus popilus.
* Phân lớp Ammonoidea
- Có vỏ xoắn ở ngoài cơ thể, có các vách ngăn.
- Đại diện có các giống Ceratites, Scaphites ...
* Phân lớp Coleoidea (Hai mang - Dibranchia)
- Có vỏ nằm phía trong cơ thể hay mất hẳn. Số lượng xúc tu ít và có giác bám trên xúc tu (tay). Cơ thể có một đôi thận và một đôi mang.
- Đại diện: Giống Belemnites trong Bộ Belemnoidea; mực nang mắt cáo, mực nang vân trắng mực nang vân hổ, mực lá, mực thẻ (Loligo edulis) và mực ống trung hoa (Loligo chinensis) trong Bộ Mười tay (Decapoda); Octopus ovalum, O. Oshimai, O. variabilis và O. ocellatus trong bộ tám tay (Octopoda)
Giá trị thực tiễn của Thân mềm
- Có lợi:
+ Lọc nước, làm sạch môi trường thủy vực, giảm thiểu sự ô nhiễm. Ví dụ như ở các loài trai khả năng lọc nước là rất lớn (mỗi cá thể trai sông mỗi ngày lọc được 12 lít nước một ngày), mỗi cá thể hàu làm lắng 1,0875g bùn/ngày.
+ Trên cạn, động vật Thân mềm ăn lá cây.
+ Một số loài cải tạo đất khi sống trong đất.
+ Từ thời cổ đại, động vật Thân mềm là thức ăn dễ kiếm. Hiện nay sản lưọng động vật Thân mềm đánh bắt được chiếm khoảng 60 - 70% (3 triệu tấn, ngoài cá), chủ yếu là Thân mềm ở biển (hàu, vẹm bào ngư, trai, điệp, ngao, sò, mực nang, mực ống)...
+ Một số loài trai cho trai ngọc (Pinctada và Pteria) là mặt hàng trang sức quí giá. + Vỏ trai, ốc có lớp xà cừ dùng để làm hàng mỹ nghệ.
+ Ngoài ra, vỏ trai (họ Cypreidae) còn được sự dụng để làm chuỗi hạt hay làm tiền; thân trai, ốc để làm khuy áo; vỏ bào ngư, mai mực dùng làm dược liệu, túi mực dùng làm thuốc vẽ, vỏ hến, ốc trai... dùng để nung vôi.
+ Nhiều loài có giá trị chỉ thị địa tầng.
- Có hại:
+ Nhiều loài phá hại các công trình giao thông, tàu thuyền, ống dẫn dầu như hà bún (Teredo, Bankia), hà sông (Dreissenia), hà đá (Pholas)…
+ Sên trần, ốc sên, ốc bươu vàng gây hại cây trồng nghiêm trọng.
+ Một số loài ốc nước ngọt là vật chủ trung gian truyền bệnh giun sán nguy hiểm cho người và gia súc. Ví dụ ốc đĩa dày (Polypilyp hemisphoerula) truyền bệnh sán bã trầu (Fasciolopsis buskii) cho lợn; ốc tai (Lymnaea swinhoei) truyền bệnh sán lá gan cho trâu bò; ốc mút (Melonoides tuberculatus) truyền bệnh sán lá gan nhỏ (Clonorchis sinensis).






Nguồn gốc và tiến hoá của Thân mềm
- Có nhiều bằng chứng về cấu tạo cơ thể và quá trình phát triển đã cho thấy có mối quan hệ mật thiết giữa động vật Thân mềm với Giun đốt. Đó là sự phân đốt hay dấu hiệu phân đốt, đặc điểm của hệ bài tiết, thể xoang hay sự phân cắt trứng, ấu trùng trochophora.... Tuy nhiên có sự sai khác trong sơ đồ cấu trúc cơ thể chứng tỏ từ nguồn gốc chung động vật thân mềm tiến hoá theo hướng sống ở đáy, ít di động, chân biến đổi theo hướng thích nghi với bám và đào bùn cát, vỏ thích nghi với sự tự vệ thụ động.
- Về quan hệ giữa các lớp trong ngành:
+ Lớp Song kinh có vỏ, Song kinh không có vỏ và Vỏ một tấm là nguyên thủy hơn cả vì có đặc điểm chung là có hệ thần kinh dạng dây, chưa tập trung thành hạch, thể xoang khá rộng.
+ Chân rìu và Chân thuỳ thích nghi với lối sống ít di động, lấy thức ăn bằng lọc nước, sống đào ở đáy bùn, cát nên phần đầu tiêu giảm và có vỏ hai mảnh hay hình ống.
+ Chân bụng sống hoạt động hơn, thích nghi với việc lấy thức ăn theo việc cạo trên bề mặt giá thể. Các loài ăn thịt xuất hiện muộn hơn.
+ Chân đầu là nhóm động vật Thân mềm hoạt động nhất, vỏ chuyển dần vào cơ thể hay mất dần. Do lối sống tích cực nên phần đầu, hệ thần kinh và giác quan rất phát triển. Hệ tuần hoàn kín, mang phát triển hoàn thiện... Tuy nhiên trong nhóm động vật Chân đầu thì ốc Anh vũ là nguyên thủy hơn như 2 đôi mang, 2 đôi thận, thể xoang chính thức khá phát triển và có vỏ bao ngoài cơ thể.


Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 37
Join date : 20/06/2015

https://sinhhocplus.forumvi.net

Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết